CUỘC VIẾNG THĂM
CHÂU Á CỦA OBAMA SẼ
MANG LẠI SỰ THAY ĐỔI
SÂU RỘNG VÀ T̉AN DIỆN
CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO TRONG
VÙNG
Gần đây, Tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama
đă viếng thăm 4 nước châu Á; đó là Nhật,
Tân gia ba, Nam Hàn và Trung Cộng. Từ đó có người
cho rằng chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ
dưới thời Obama có một sự thay đổi sâu
rộng, toàn diện và có thể nói là một sự đoạn
tuyệt với đường lối ngoại giao
trước đây của G. Bush, đặc biệt là
ở vùng châu Á Thái b́nh Dương.
Có phải thế không ?
Chúng ta hăy cùng nhau xem xét
vấn đề.
Quan niệm cho rằng
có một sự thay đổi toàn diện, đi
đến chỗ đoạn tuyệt với
đường lối ngoại giao trước đó
Thật vậy, nếu
chúng ta quan sát đường lối ngoại giao của
Hoa Kỳ vào thời Tổng thống Georges Bush con, nhất
là vào nhiệm kỳ đầu với sự ảnh
hưởng của những người như Phó Tổng
Thống Dick Cheney, Bộ Trưởng Quốc pḥng Rumsfeld,
những người của Trường phái Tân Bảo
thủ, th́ chúng ta thấy đường lối ngoại
giao của Hoa Kỳ có vẻ hùng hổ, coi thường
thế giới, một ḿnh một ngựa.
Đường lối ngoại giao này đă đi
đến chỗ Hoa Kỳ tấn công A phú Hăn, đổ
bộ quân vào Irak; về vùng châu Á, th́ Hoa Kỳ chú trọng
nhiều hơn đến vùng Bắc Á và Đông Á hơn là
Nam Á.
Tuy nhiên, từ ngày Obama
lên làm tổng thống, chúng ta thấy có sự thay
đổi, Hoa Kỳ chú trọng đến vùng Đông Nam
Á mà trước kia bị bỏ rơi, Ngoại
trưởng Hoa Kỳ Hillary Clinton, Bộ trưởng
Quốc pḥng Robert Gates thường viếng thăm vùng
Đông Nam Á. Hơn thế nữa, chiến lược
ngoại giao của Obama có vẻ ít có tính cách một
người một ngựa, coi thường thế
giới. Trong chuyến viếng thăm Á châu này,
nước đầu tiên là Nhật Bản, ông Obama đă
tuyên bố:
“ Nếu Bắc Hàn không
đồng ư th́ chúng ta sẽ đoàn kết phía sau các
nghị quyết của Liên Hiệp Quốc để
đáp ứng nhu cầu an ninh của chúng ta và thuyết
phục B́nh Nhưỡng phải có động thái tốt
đẹp hơn…
“ Tôi muốn nói rơ Hoa
Kỳ là quốc gia của Thái B́nh Dương và do vậy
chúng ta sẽ cam kết nhiều hơn vào vùng này.
Tương lai của Hoa Kỳ và của châu Á dính liền
nhau.” ( Diễn văn đọc tại Nhật ngày 13/11/2009).
Ngày hôm qua, 16/11, khi
đặt chân tới Thượng Hải, trước khi
tới Bắc Kinh, ông Obama đă nói thẳng đến
vấn đề nhân quyền, điều mà ông G. Bush tránh
né trước đây khi viếng thăm Trung Cộng. Ông
Obama nói:
“ Quyền tự do ngôn
luận không phải là của riêng của Hoa Kỳ mà là
một quyền có tính cách toàn cầu, mọi người,
mọi dân tộc đều có quyền được
hưởng.” Ông thúc dục Chính phủ Trung Cộng hăy băi
bỏ lệnh kiểm duyệt Internet. Ông c̣n nói thêm:
“ Tôi nghĩ tin tức
càng lưu thông dễ dàng th́ xă hội sẽ mạnh hơn
v́ các công dân sẽ chờ đợi chính phủ của
ḿnh có trách nhiệm hơn; dân chúng sẽ suy nghĩ hay
hơn và độc lập hơn.”
Chính v́ vậy mà bài
diễn văn ở Thượng Hải của ông Obama
đă bị cắt xén ở nhiều đài và đă không
được truyền thanh trên đài Truyền h́nh nhà
nước Trung Cộng.
Không ai chối căi
rằng cuộc viếng thăm châu Á của ông Obama
muốn nói lên những điều sau đây:
1) Ông Obama
muốn nói lên một lần nữa là chính sách ngoại giao
của Hoa Kỳ không c̣n kiểu một ḿnh một ngựa
nữa như thời ông G. Bush.
2) Hoa kỳ chú ư
nhiều hơn đến vùng châu Á Thái b́nh dương,
nhất là không bỏ rơi vùng Đông Nam Á trước
đây, như ông Lư quang Diệu, cựu Thủ
tướng Tân Gia Ba đă nhiều lần lên tiếng
cảnh cáo Hoa Kỳ.
3) Hoa Kỳ
cũng không quên vấn đề Bắc Hàn và ngay cả
vấn đề nhân quyền ở Trung Cộng, ở
những nước cộng sản c̣n lại.
Tuy nhiên, từ đó để đưa ra quan
điểm là có một sự thay đổi sâu rộng,
đi đến toàn diện và nhiều khi đoạn
tuyệt với đường lối ngoại giao cũ,
th́ cũng không đúng lắm.
Thậy vậy, nếu
chúng ta quan sát đường lối ngoại giao của
Hoa Kỳ, ít nhất là từ đầu thế kỷ 20,
sau Đệ Nhất Thế Chiến tới nay, th́ chúng ta
thấy nó có tính cách liên tục, tiếp nối hơn là
gián đoạn, mỗi thời, mỗi chính quyền làm
một móc xích ngoại giao trong một móc xích dài,
thường được định ra bởi Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia, bao gồm nhiều nhà
chiến lược và viện nghiên cứu chiến
lược nổi tiếng; và được quyết
định bởi Thượng Viện, cơ quan có
quyền quyết định về ngân sách ngoại giao và
phê chuẩn những hiệp ước quốc tế.
Một vài dữ
kiện lịch sử để chúng ta thấy rơ: Vào
thời cuối Đệ Nhất Thế Chiến, chính Hoa
Kỳ đă giúp Anh, Pháp chiến thắng, đă thành
lập ra Hội Quốc Liên, tiền thân của Liên
Hiệp Quốc, Tổng Thống Hoa Kỳ lúc đó là ông
Widrew Wilson, trong bài diễn văn 14 điểm, đă
muốn xây dựng một trật tự thế giới
mới, muốn can thiệp mạnh hơn vào chính
trường quốc tế, nhưng Thượng Viện
và những nhà cố vấn chiến lược ngoại
giao lúc đó nhận thấy rằng chưa phải lúc, 2
đế quốc Anh và Pháp c̣n quá mạnh, không cho phép Hoa
kỳ làm việc này, nên Thượng Viện Hoa Kỳ
đă không phê chuẩn Hiệp Ước thành lập
Hội Quôc Liên, Hoa Kỳ không có mặt trong tổ chức
này, làm nó yếu hẳn đi; và đây cũng là một
trong những nguyên do chính đưa đến Đệ
Nhị Thế Chiến.
Sau Đệ Nhị
Thế Chiến, Hoa Kỳ phải đương
đầu với đế quốc cộng sản Liên Sô,
chính v́ vậy mà có Chính sách Be bờ ( Containment Policy)
được soạn thảo bởi Paul Nitzé và G. Kennan,
một người Chủ Tịch Hội Đồng An
Ninh quốc gia, một người là chuyên gia về
vấn đề cộng sản Liên Sô. Chính sách này
được gói ghém trong Chỉ thị 68 của Hội
Đồng An Ninh Quốc Gia, và gần như
được coi là kim chỉ nam của những nhà
ngoại giao Hoa Kỳ trong thời gian gần 50 năm
Chiến Tranh Lạnh, mặc dầu có nhiều chính
quyền, tổng thống và ngoại trưởng khác nhau.
Khi Bức Tường Bá linh sụp đổ vào ngày
9/11/1989, ông Paul Nitzé lúc đó đang là Trưởng Phái
Đoàn phụ trách về vấn đề tài giảm binh
bị ở Genève, đă tuyên bố: “ Chúng ta đă chiến
thắng Chiến tranh Lạnh.”
Nếu chúng ta suy
nghĩ và nh́n sâu xa, th́ chúng ta nhận thấy
đường lối ngoại giao của Obama không
phải là thay đổi toàn diện, đi đến
đứt đoạn, mà chính là có tính cách tiếp nối
đường lối của G. Bush, ngay cả về
đường lối ngoại giao ở châu Á Thái b́nh
Dương.
Ngoài việc chính sách
ngoại giao có tính cách cấp bách là can thiệp vào A Phú Hăn
và Irak, v́ vấn đề khủng bố và dầu hỏa
của G. Bush, v́ chúng ta phải suy nghĩ hơi khác đi
những nhà báo, nhất là Tây Âu, chỉ trích sự can
thiệp này. Thật vậy, chúng ta thử nh́n khác đi
theo giả thuyết, theo đó khủng bố vẫn hoành
hành trên thế giới, và Chính quyền Taliban vẫn c̣n
ở A Phú Hăn, kiểm soát những ống dẫn dầu
từ Trung Á ra biển; và Sadam Hussein vẫn ngự trị
tại Irak, một trong những quốc gia sản xuất
dầu hỏa và có lượng dự trữ quan trọng
trên thế giới, th́ thế giới hiện nay sẽ ra
sao. Đây là quyết định mà không phải chỉ có
G. Bush mới lấy mà tôi nghĩ ngay cả những
tổng khác của Hoa Kỳ vẫn lấy những
quyết định này.
Chính sách ngoại giao
của Hoa Kỳ, từ xưa đến nay vẫn có tính
cách liên tục ở chỗ là bảo vệ quyền
lợi và địa vị ưu thế của Hoa Kỳ
trên thế giới và làm sao để cho sự ưu
thế này được tiếp tục.
Từ đó, Hoa Kỳ
phải t́m cách làm yếu hay hơn nữa tiêu diệt
tất cả những cái ǵ hay quốc gia nào thách thức
sự ưu thế này. Vào sau Đệ Nhất Thế
Chiến là Âu Châu qua 2 đế quốc Anh Pháp; sau
Đệ Nhị Thế Chiến là đế quốc Liên
Sô. Ngày hôm nay là Trung Cộng.
Đối với Trung
Cộng, hay nói một cách rộng răi hơn là chiến
lược ngoại giao của Hoa Kỳ, từ thời G.
Bush tới Obama, vẫn có tính cách liên tục. Đó là, ư
thức rất rơ sự thách thức tương lai
đối với Hoa Kỳ không c̣n là châu Âu châu và Liên sô, mà
là Trung cộng, v́ vậy Hoa Kỳ t́m cách bao vây Trung
Cộng. Ở thời G. Bush, đó là t́m cách kư kết
những hiệp ước quân sự ở 2 vùng Bắc Á
và Đông Á, qua các quốc gia Ấn Độ, Pakistan, Nam
Hàn, Đài Loan và Nhật Bản; nay cần cho móc xích ṿng vây
được khép lại, th́ Hoa Kỳ cần phải có
những hiệp ước quân sự đối với
những nước Đông Nam Á.
Ở điểm này,
tôi muốn nói đến Việt Nam và Bắc Hàn.
Trước đây, Hoa Kỳ và ngay cả Trung Cộng
đă dùng Bắc Hàn như một “ con chó “, tôi xin lỗi
về cách dùng danh từ hơi khiếm nhă, nhưng như
thế mới nói lên hết ư nghĩa. Trung Cộng dùng
Bắc Hàn như con chó để chứng tỏ ḿnh là
một cường quốc để dọa nạt
những nước chung quanh. Hoa Kỳ đồng t́nh
với Trung Cộng là dùng Bắc Hàn cũng như con chó
để dọa nạt những quốc gia Bắc Á và
Đông Á, để những quốc gia này thân thiện
hơn với Hoa Kỳ, kư những hiệp ước quân
sự và mua vơ khí của Hoa Kỳ.
Đối với
Việt Nam, nhiều người quá vội lạc quan cho
rằng để bao vây Trung Cộng, th́ Hoa Kỳ sẽ
t́m cách tách rời Việt Nam khỏi quỹ đạo của
Trung Cộng, thân thiện nhiều hơn với Việt
Nam. Chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ không quá ngây thơ
như vậy. Chính quyền Hoa Kỳ hiểu hơn ai
hết “ Cộng sản Việt Nam chỉ là phường
ăn cháo, đái bát “, câu của Đặng tiểu B́nh,
Hoa kỳ không có một tư ǵ là tin tưởng ở
cộng sản Việt Nam, mặc dầu bề ngoài
vẫn có những bang giao; nhưng bên trong Hoa Kỳ cũng
muốn dùng cộng sản Việt Nam như “ con chó Bắc
Hàn” đi đến mức độ đó là cộng
sản Việt Nam càng đi gần với Trung Cộng, Hoa
Kỳ càng mừng, v́ như thế th́ Hoa Kỳ dễ dàng
kư những hiệp ước quân sự, thân thiện
với 9 nước Đông Nam Á c̣n lại, và những
nước này Hoa Kỳ dễ tin hơn.
Trở về
đường lối ngoại giao của Hoa Kỳ
đối với vùng châu Á Thái B́nh Dương, nó không có
sự đứt đoạn, mà chính là có sự nối
tiếp; đó là đặt quyền lợi tối hậu
và tiếp tục duy tŕ sự ưu thế của Hoa
Kỳ trên trường quốc tế, nó có tính cách không
một ḿnh một ngựa như thời G. Bush; v́ chính ngày
hôm nay, kinh tế Hoa Kỳ cũng đang gặp khó
khăn, cuộc khủng hỏang kinh tế thế
giới là do chính Hoa Kỳ làm ra, Hoa Kỳ phải chấp
nhận Hội nghị thượng đỉnh 20 quốc
gia, đó là Hoa Kỳ muốn thế giới chia sẻ khó
khăn, gánh nặng kinh tế với Hoa Kỳ. Nhưng
từ đó đi đến kết luận là ưu
thế của Hoa Kỳ sẽ chấm dứt trong ngắn
hạn, điều này không đúng; hay bảo rằng
ưu thế của Hoa Kỳ sẽ kéo dài măi, điều
này cũng sai.
Ưu thế này có thể c̣n kéo dài ít nhất là 20 hay
30 năm nữa, nếu không muốn nói là hàng nửa
thế kỷ. Tuy nhiên nó c̣n tùy thuộc vào những thách
thức mà các cường quốc trên thế giới có
thể tác động đến ưu thế này. (1)
Paris ngày 18/11/2009
Chu chi
Nam
(1)
Xin xem them những bài viết về Hoa
Kỳ, trên: http://perso.orange.fr/chuchinam/